Sign In

Tọa đàm khoa học “Quản trị liên tỉnh nhằm tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu ở hạ nguồn lưu vực sông Mê Kông: Bài học từ Ô-xtrây-li-a đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam)”.

07:00 29/09/2026

Chọn cỡ chữ A a    

Chiều ngày 28/9/2026, Học viện Chính trị khu vực II tổ chức Tọa đàm khoa học “Quản trị liên tỉnh nhằm tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu ở hạ nguồn lưu vực sông Mê Kông: Bài học từ Ô-xtrây-li-a đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam)”.


Toàn cảnh Tọa đàm

Toạ đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tham dự Tọa đàm, về phía Trung tâm Việt - Úc có bà Kim Cleary - Giám đốc quốc tế; ông Hoàng Thanh Hải - Điều phối viên cấp cao. Về phía các cơ quan, đơn vị có Ông Hồ Thanh Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang;  Ông Lê Minh Đúng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp; Ông Nguyễn Thanh Luận - Phó Bí thư,  Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình An, tỉnh An Giang.

Về phía Học viện Chính trị khu vực II có TS. Lê Thị Anh Đào - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện; TS. Nguyễn Văn Phương - Trưởng khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Trưởng Dự án; cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Học viện, thành viên Nhóm Dự án, các chuyên gia, nhà khoa học.

Tọa đàm do TS. Lê Thị Anh Đào và TS. Nguyễn Văn Phương đồng chủ trì.

TS. Lê Thị Anh Đào - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II phát biểu khai mạc và đề dẫn.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn, TS. Lê Thị Anh Đào - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II nhấn mạnh, Tọa đàm được tổ chức với sự tài trợ của Trung tâm Việt - Úc, là biểu hiện sinh động của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ô-xtrây-li-a, đồng thời là dịp Nhóm Dự án báo cáo kết quả nghiên cứu sau quá trình tham vấn chuyên gia, tổ chức 06 cuộc tọa đàm, khảo sát 809 cán bộ, công chức, 327 người dân và quan sát thực địa. Theo TS. Lê Thị Anh Đào, dòng sông không có địa giới hành chính nhưng bộ máy quản trị thì có; việc sáp nhập đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025 chỉ làm dịch chuyển chứ không xóa bỏ tính liên vùng của nguồn nước. Từ dữ liệu khảo sát, đồng chí chỉ ra ba vấn đề cần suy ngẫm: khoảng cách giữa văn bản và phối hợp liên tỉnh; vận hành thể chế là mắt xích yếu nhất; khoảng cách giữa nhận định của cán bộ và cảm nhận của người dân về hiệu quả chính sách. Bên cạnh đó, mô hình Khóm - Cau - Dừa ở xã Bình An cho thấy khi dữ liệu liên tỉnh thông suốt, kết quả thích ứng sẽ xuất hiện. Từ kinh nghiệm lưu vực Murray-Darling, đồng chí lưu ý cần học một cách có chọn lọc, có phê phán, không “nhập khẩu” mô hình mà học logic thể chế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Để Toạ đàm đạt được mục tiêu đề ra, TS. Lê Thị Anh Đào đề nghị các đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận bốn nhóm vấn đề: Thứ nhất, về cơ chế phối hợp liên tỉnh, cần làm rõ giải pháp để cơ chế này chuyển từ “tự nguyện” sang “ràng buộc” trong cấu trúc Nhà nước đơn nhất và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, cần xác định cấp độ thể chế phù hợp, khả thi, từ xây dựng quy chế phối hợp đa phương giữa các tỉnh, sửa đổi Nghị định số 78/2022/NĐ-CP đến nghiên cứu khả năng luật hóa. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện Hội đồng điều phối vùng theo hướng có đủ cơ chế vận hành, nguồn lực tài chính và hệ thống dữ liệu dùng chung để phát huy đúng vai trò điều phối. Thứ hai, về cơ chế học hỏi và đánh giá chính sách, cần nghiên cứu giải pháp để hoạt động học hỏi trở thành cấu phần thường xuyên của thể chế, không phụ thuộc vào nhiệm kỳ hay cá nhân lãnh đạo. Từ kinh nghiệm của Ô-xtrây-li-a, cần trao đổi khả năng hình thành thiết chế đánh giá độc lập tương tự Ủy ban Năng suất của Ô-xtrây-li-a; đồng thời xác định vai trò của các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu trong cung cấp luận cứ khoa học và đánh giá chính sách. Thứ ba, về sự tham gia của người dân trong chu trình chính sách, cần thảo luận giải pháp để tiếng nói của người dân, nhất là hộ nghèo, phụ nữ và đồng bào Khmer, được phản ánh thực chất trong hoạch định và thực thi chính sách. Vấn đề này càng có ý nghĩa khi địa bàn quản lý của mỗi xã sau sáp nhập được mở rộng nhưng biên chế không tăng tương ứng. Do đó, cần trao đổi về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các thiết chế tự quản ở cơ sở trong điều kiện mới. Thứ tư, về phản biện và hoàn thiện dự thảo báo cáo, đề nghị các đại biểu trao đổi thẳng thắn, trách nhiệm; làm rõ những phát hiện đã có cơ sở, những vấn đề cần tiếp tục kiểm chứng; đánh giá tính khả thi của các kiến nghị, xác định vấn đề ưu tiên và lộ trình thực hiện phù hợp. Đối với các đại biểu đến từ Đồng Tháp và An Giang, ý kiến xuất phát từ thực tiễn địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là thước đo giá trị khoa học và khả năng vận dụng của các đề xuất.

Bà Kim Cleary - Giám đốc quốc tế, Trung tâm Việt - Úc phát biểu.

Tiếp đó, phát biểu tại điểm cầu Trung tâm Việt - Úc, Bà Kim Cleary - Giám đốc quốc tế, Trung tâm Việt - Úc nhấn mạnh ý nghĩa của hợp tác Việt Nam - Ô-xtrây-li-a trong nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm về quản trị, thích ứng với biến đổi khí hậu. Bà đánh giá cao những kết quả nghiên cứu và trao đổi tại Tọa đàm, đồng thời cho rằng việc tăng cường đối thoại giữa các nhà khoa học, cơ quan quản lý và địa phương sẽ góp phần thúc đẩy các giải pháp phù hợp với thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long.

Tại Tọa đàm, đại biểu cũng được xem video về hành trình nghiên cứu thực địa của Nhóm nghiên cứu Dự án do ThS. Lê Ngọc Nghĩa, Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học thực hiện.

TS. Vũ Văn Phong - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin khoa học và Tạp chí trình bày tham luận.

Trình bày tham luận “Cơ sở chính trị, pháp lý của Việt Nam về quản trị liên tỉnh thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay”, TS. Vũ Văn Phong đề xuất xây dựng thiết chế quản trị liên tỉnh có thực quyền để Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún không theo ranh giới hành chính, trong khi quản trị hiện nay còn phân mảnh theo từng tỉnh, thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh. Nguyên nhân nằm ở ba điểm nghẽn thể chế: “cấp vùng” chưa có tư cách pháp lý nên Hội đồng điều phối vùng chỉ mang tính tư vấn; Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 cản trở việc góp vốn cho dự án liên tỉnh; việc bỏ cấp huyện từ ngày 01/7/2025 tạo khoảng trống điều phối kỹ thuật. Trên cơ sở chủ trương của Đảng và bài học từ lưu vực Murray-Darling (Ô-xtrây-li-a), TS. Vũ Văn Phong đề xuất hoàn thiện pháp luật về Liên kết phát triển vùng; xây dựng Quỹ Phát triển vùng; nâng cao thực quyền cho Hội đồng điều phối vùng và các Ủy ban lưu vực tiểu vùng; xây dựng Trung tâm dữ liệu số sinh thái ứng dụng trí tuệ nhân tạo, big data, IoT; thiết lập cơ chế phản biện khoa học có sự tham gia của cộng đồng. Theo TS. Vũ Văn Phong, muốn thích ứng hiệu quả, cần chuyển từ quản lý hành chính đơn tuyến sang quản trị sinh thái đa trung tâm.

PGS, TS. Võ Hữu Phước - Trưởng khoa Kinh tế, xã hội và môi trường trình bày tham luận.

Tham luận “Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy quản trị liên tỉnh nhằm tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu: Hàm ý chính sách cho Việt Nam” của PGS, TS. Võ Hữu Phước nhấn mạnh, thích ứng với biến đổi khí hậu ở quy mô châu thổ là bài toán quản trị trước khi là bài toán kỹ thuật, bởi các tác động ở Đồng bằng sông Cửu Long đều vượt ranh giới một tỉnh, trong khi cơ chế điều phối vùng hiện nay còn thiếu thẩm quyền, nguồn lực tài chính riêng và công cụ ràng buộc trách nhiệm. Qua so sánh mô hình của Hà Lan, Ô-xtrây-li-a, Trung Quốc và Hoa Kỳ theo bốn trụ cột (thiết chế điều phối, tài chính, dữ liệu dùng chung, giải trình), PGS, TS. Võ Hữu Phước rút ra ba điểm chung: quản lý theo đơn vị thủy văn - sinh thái; điều phối phải có thực quyền; dữ liệu minh bạch là nền tảng của niềm tin giữa các địa phương. Từ đó, tác giả đề xuất năm hàm ý cho Việt Nam: nâng Hội đồng điều phối vùng lên thành cơ quan điều phối có thẩm quyền; tổ chức thích ứng theo tiểu vùng sinh thái; lập Quỹ thích ứng vùng với cơ chế chi trả liên tỉnh; xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung; tăng cường trách nhiệm giải trình gắn với sự tham gia của cộng đồng. Theo tác giả, khâu then chốt hiện nay là chuyển liên kết vùng từ tự nguyện sang thể chế hóa với thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng.

TS. Nguyễn Hữu Hoàng - giảng viên Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, trợ lý khoa học Dự án chia sẻ kết quả nghiên cứu.

Tại Toạ đàm, TS. Nguyễn Hữu Hoàng - giảng viên Khoa Kinh tế, xã hội và môi trường, trợ lý khoa học Dự án chia sẻ kết quả bước đầu của nghiên cứu “Quản trị liên tỉnh nhằm tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu ở hạ nguồn lưu vực sông Mê Kông: Nghiên cứu trường hợp tại một số địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Kết quả nghiên cứu tại Đồng Tháp và An Giang cho thấy, dù khung thể chế phối hợp liên tỉnh cơ bản đã được hình thành, hiệu quả thực thi còn hạn chế do hoạt động điều phối chưa thường xuyên, cơ chế phối hợp thiếu tính ràng buộc và năng lực điều phối chưa đáp ứng yêu cầu. Từ kinh nghiệm quản trị lưu vực sông Murray-Darling của Ô-xtrây-li-a, nhóm nghiên cứu đề xuất tăng cường cơ chế điều phối có tính ràng buộc, xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, bảo đảm nguồn lực chuyên trách, đồng thời tăng cường cơ chế học hỏi, giám sát độc lập và sự tham gia của cộng đồng, phù hợp với đặc điểm thể chế và điều kiện thực tiễn của Đồng bằng sông Cửu Long.

PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương - Phó Trưởng khoa Kinh tế, xã hội và môi trường trình bày tham luận.

Tham luận “Quản trị liên tỉnh trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh hậu sắp xếp tổ chức bộ máy ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương cho rằng, việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, đưa Đồng bằng sông Cửu Long từ 13 xuống còn 5 tỉnh, thành phố, chỉ làm thay đổi hình thái chứ không xóa bỏ nhu cầu quản trị liên tỉnh: một số quan hệ được nội hóa, nhưng các hệ thống thủy lợi lớn vẫn mang tính liên tỉnh và Đồng Tháp trở thành không gian liên vùng. Phân tích theo ba chiều không gian, chủ thể và cơ chế, PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương chỉ ra: cấp tỉnh mạnh lên nhưng dễ trùng lặp đầu tư; cấp xã chịu áp lực thực thi khi thiếu năng lực; Hội đồng điều phối vùng vẫn mang tính tư vấn, công cụ thực thi chưa theo kịp khung chính sách mới. Nếu thiếu điều phối, nông nghiệp công nghệ cao dễ rơi vào “thích ứng sai” do đầu tư sai chỗ, sai điều kiện nguồn nước. Từ kinh nghiệm của Murray-Darling và Hà Lan, PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương đề xuất sáu nhóm khuyến nghị: xác lập tiểu vùng chức năng; thể chế hóa thỏa thuận liên tỉnh có ràng buộc; xây dựng dữ liệu dùng chung; thiết kế công cụ tài chính gắn với thích ứng; nâng cao năng lực cấp xã và vai trò của các chủ thể ngoài nhà nước; thiết lập giám sát độc lập.

Từ thực tiễn địa phương, ông Hồ Thanh Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang trình bày tham luận và góp ý cho dự thảo Báo cáo. Theo tham luận, biến đổi khí hậu đã tác động trực tiếp đến sản xuất, dân cư và hạ tầng của An Giang, trong khi nhiều hệ thống thủy lợi như Tứ giác Long Xuyên, Cái Lớn - Cái Bé, Ô Môn - Xà No, Quản Lộ - Phụng Hiệp liên quan đến các địa phương lân cận, nên khả năng thích ứng phụ thuộc vào sự phối hợp liên tỉnh. Thực tiễn cho thấy, quản trị liên tỉnh bắt đầu từ những hoạt động kỹ thuật cụ thể: phối hợp vận hành công trình theo quy trình được phê duyệt; ký Quy chế phối hợp quản lý, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long; chia sẻ thông tin nguồn nước; phối hợp với Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống công trình chưa khép kín, đồng bộ, nhân lực và nguồn lực còn hạn chế. Từ đó, tham luận đề xuất hoàn thiện quy chế phối hợp theo từng hệ thống; xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin phục vụ ra quyết định; đầu tư công trình theo cả hệ thống; gắn phòng, chống thiên tai với thích ứng; tăng cường phối hợp giữa các ngành, địa phương.

Toàn cảnh trao đổi, thảo luận.

Tại phiên thảo luận, các đại biểu tập trung nghe ý kiến của lãnh đạo chính quyền cấp xã tại các địa bàn được chọn nghiên cứu ở An Giang và Đồng Tháp, đồng thời bình luận về dự thảo Báo cáo Dự án.

Ông Lê Minh Đúng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp trình bày tham luận.

Ông Lê Minh Đúng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp cho rằng, các vấn đề nước, môi trường và hệ sinh thái ở hạ nguồn sông Mê Kông có tính liên thông, nên quản trị liên tỉnh muốn hiệu quả phải bắt đầu từ cơ sở. Từ thực tiễn địa bàn ven sông Tiền, giáp Vĩnh Long, phát triển theo hướng “sinh thái - văn minh”, Ông cho rằng, cấp cơ sở không thay thế vai trò điều phối của cấp tỉnh và cấp vùng, nhưng là nơi phát hiện sớm vấn đề, tiếp nhận thông tin từ người dân, tổ chức thực hiện và huy động cộng đồng. Theo đó, Đảng ủy lãnh đạo, thống nhất nhận thức; chính quyền phường tổ chức, kết nối các chủ thể; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động, giám sát; khu phố và tổ nhân dân tự quản là tuyến đầu phát hiện vấn đề. Ông Lê Minh Đúng đề xuất chuỗi quản trị từ phát hiện sớm, xác minh, xác định phạm vi tác động, xử lý theo thẩm quyền hoặc phối hợp, đến phản hồi cho cộng đồng; kết hợp bảo vệ môi trường với du lịch cộng đồng, ứng dụng chuyển đổi số và nâng cao năng lực người dân; đồng thời kiến nghị cấp tỉnh tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ và xây dựng cơ chế phối hợp liên tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Luận - Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình An, tỉnh An Giang trình bày tham luận.

Ông Nguyễn Thanh Luận - Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình An, tỉnh An Giang cho rằng, biến đổi khí hậu không bị giới hạn bởi địa giới hành chính, nên cần chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị thích ứng có sự liên kết giữa các địa phương. Bình An là địa bàn hợp nhất từ ba đơn vị hành chính với hơn 60 nghìn dân, đang sắp xếp từ 20 ấp xuống còn 12 ấp và có cống Cái Bé thuộc hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé. Từ thực tiễn đó, đại biểu nhận định một xã không thể tự giải quyết các vấn đề nguồn nước và thiên tai nếu thiếu phối hợp với địa phương lân cận và cơ quan chuyên môn của tỉnh. Theo đó, Đảng ủy lãnh đạo, thống nhất nhận thức thích ứng là nhiệm vụ lâu dài của toàn xã hội; Ủy ban nhân dân xã điều phối, xây dựng dữ liệu và trao đổi thông tin liên địa phương; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là cầu nối, vận động và giám sát; Nhân dân là chủ thể của quá trình thích ứng. Đồng chí đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp liên địa phương, chia sẻ cơ sở dữ liệu, gắn quản lý nguồn nước với chuyển đổi sản xuất thích ứng và lấy cộng đồng làm trung tâm qua các mô hình như “Khu dân cư xanh - sạch - thích ứng”, “Tổ cộng đồng giám sát môi trường”; đồng thời kiến nghị cấp trên tăng cường điều phối liên xã, đầu tư thủy lợi, cung cấp dự báo, đào tạo cán bộ xã và hỗ trợ nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Ông Hoàng Thanh Hải - Điều phối viên cấp cao Trung tâm Việt - Úc chia sẻ.

 Trao đổi tại Tọa đàm, Ông Hoàng Thanh Hải - Điều phối viên cấp cao Trung tâm Việt - Úc chia sẻ kinh nghiệm của Ô-xtrây-li-a trong quản trị nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu, nhấn mạnh vai trò của phối hợp liên địa phương, chia sẻ dữ liệu và phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể. Ông cho rằng, việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cần có sự chọn lọc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời tăng cường đối thoại giữa nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng để xây dựng chính sách dựa trên tình hình thực tiễn.

 

TS. Nguyễn Văn Phương - Trưởng khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Trưởng Dự án phát biểu tổng kết.

Phát biểu tổng kết, TS. Nguyễn Văn Phương khẳng định Tọa đàm đã hoàn thành mục tiêu đề ra, với bốn kết quả chủ yếu: Một là, thống nhất nhận thức: biến đổi khí hậu và nguồn nước không dừng lại ở địa giới hành chính; sau sắp xếp đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025, không gian quản lý mở rộng vừa là dư địa, vừa đặt ra yêu cầu mới, khiến quản trị liên tỉnh trở thành đòi hỏi tất yếu chứ không còn là lựa chọn. Hai là, làm sâu sắc thêm chẩn đoán của dự thảo: các ý kiến đồng tình và bổ sung luận cứ cho nhận định “thể chế đã có nhưng chưa chạy; kết quả đã thấy nhưng chưa học được”, trong đó khâu yếu nhất là tính thực chất của điều phối và năng lực học hỏi thể chế. Ba là, định hướng giải pháp: chuyển liên kết vùng từ tự nguyện, phong trào sang thể chế hóa có ràng buộc, dựa trên bốn trụ cột là thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu dùng chung, trách nhiệm giải trình gắn với sự tham gia của người dân, vận hành thông suốt từ Trung ương, vùng đến tỉnh và cơ sở. Bốn là, Tọa đàm là minh chứng sinh động cho hợp tác Việt Nam - Ô-xtrây-li-a trong hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng, đồng thời là hình mẫu thu nhỏ của “diễn đàn học hỏi định kỳ” giữa nhà khoa học, nhà quản lý và cơ sở mà Báo cáo kiến nghị. Những ý kiến tại Tọa đàm là cơ sở để Nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện dự thảo Báo cáo nghiên cứu của Dự án.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Tọa đàm.

Tọa đàm kết thúc vào chiều cùng ngày./.

Tin: Thu Nhi; Ảnh: Công Cẩn

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: