THÚC ĐẨY QUAN HỆ CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH MỚI THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

    01/12/2021 11:02 AM


    Tóm tắt: Đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế qua mỗi kỳ đại hội. So với Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nhiều quan điểm mới về đối ngoại. Làm rõ những luận điểm mới trong Văn kiện lần thứ XIII của Đảng, đặt trong bối cảnh diễn biến “khó lường” ở trong nước và quốc tế, Việt Nam sẽ cố gắng củng cố, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn những mối quan hệ hiện tại, trong đó nhấn mạnh quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Nhật Bản, hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Nhật, thực hiện mục tiêu kiến tạo khu vực châu Á thịnh vượng, phồn vinh. Từ khóa: Đại hội lần thứ XIII của Đảng; Nhật Bản; Việt Nam

    1. Khái quát một số thành tựu chính trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản

    - Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản được đánh giá là đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất trong lịch sử bang giao hai nước

    Sự tin cậy chính trị giữa hai nước ngày càng được củng cố, các chuyến thăm, tiếp xúc các cấp, nhất là cấp cao được duy trì thường xuyên ở các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội. Trong suốt hơn 48 năm qua, lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên duy trì các chuyến viếng thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo 04 lần thăm Việt Nam (tháng 11/2006, tháng 01/2013, tháng 01/2017 và tháng 11/2017); tháng 02/2009 là chuyến thăm Việt Nam của

    Hoàng Thái tử Nhật Bản Naruhito (nay là Nhật hoàng); từ ngày 28/02/2017 - 05/3/2017 là chuyến thăm Việt Nam của Nhà vua Akihito (đã thoái vị, hiện là Thượng Hoàng Nhật Bản); tháng 10/2020, Tân Thủ tướng Suga Yoshihide lựa chọn Việt Nam là điểm công du nước ngoài đầu tiên. Lãnh đạo Việt Nam thăm Nhật Bản: tháng 9/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Nhật Bản; tháng 5/2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang thăm cấp Nhà nước; Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự Hội nghị G7 mở rộng tháng 5/2016, thăm chính thức Nhật Bản tháng 6/2017, dự Hội nghị cấp cao Mê Công - Nhật Bản tháng 10/2018, dự Hội nghị cấp cao G20 tháng 6/2019 và dự Lễ đăng quang của Nhà vua Nhật Bản tháng 10/2019. Các chuyến viếng thăm này đã xây dựng một kỷ nguyên vững mạnh trong quan hệ Việt - Nhật: kỷ nguyên xích lại gần nhau, cùng hợp tác và phát triển trên cơ sở hòa bình, hữu nghị vì lợi ích và mục tiêu chung của hai nước.

    - Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại, quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đã đạt được những thành tựu thiết thực

    + Về thương mại, Nhật Bản hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Nhật Bản năm 2019 đạt gần 40 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 09 tháng năm 2020 đạt 28,6 tỷ USD; nhập khẩu đạt 14,6 tỷ USD; xuất khẩu đạt 14 tỷ USD(1).

    + Về viện trợ phát triển chính thức (ODA), từ khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam từ năm 1992 tới nay, nguồn ODA từ Nhật Bản chiếm hơn 1/3 trong tổng số viện trợ chính thức của các nước trên thế giới cho Việt Nam, với tổng số vốn ODA lũy kế đạt khoảng 31 tỷ USD(2), tập trung ưu tiên vào 05 lĩnh vực: (1) Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; (2) Hỗ trợ phát triển ngành giao thông vận tải và điện lực; (3) Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn; (4) Ưu tiên cho giáo dục, sức khỏe và dịch vụ y tế; (5) Cải thiện môi trường(3). Hàng loạt dự án hạ tầng kinh tế - xã hội dùng vốn ODA của Nhật Bản đã đi vào hoạt động như: Nâng cấp Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Bạch Mai, Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt - Nhật; Quốc lộ 5, 10, 18, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2, Phú Mỹ 1, Đại lộ Đông - Tây, cầu Thanh Trì, đường hầm xuyên đèo Hải Vân...(4).

    + Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), lũy kế đến tháng 9/2020, Nhật Bản có 4.595 dự án FDI còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 59,87 tỷ USD (dưới 2 hình thức chính: 100% vốn nước ngoài và hợp đồng BOT), đứng thứ hai trong tổng số 136 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam(5). Cuối năm 2020, có 15/30 doanh nghiệp Nhật Bản nhận được hỗ trợ đợt đầu muốn mở rộng đầu tư ở Việt Nam. Điều này cho thấy, ngay cả trong bối cảnh địa chính trị thế giới có nhiều biến động, với tình hình đại dịch bất ổn và suy thoái kinh tế quy mô toàn cầu, Nhật Bản vẫn tiếp tục là nhà đầu tư và viện trợ đáng tin cậy của Việt Nam.

     

    - Hợp tác quốc phòng được xây dựng trên cơ sở thúc đẩy lòng tin chiến lược và hỗ trợ năng lực của Nhật Bản cho Việt Nam, đối phó với các thách thức an ninh toàn cầu

    Dự luật an ninh mới cho phép Nhật Bản giúp đỡ Việt Nam trong công tác hậu cần, cứu hộ, thu thập thông tin, tham gia phòng vệ tập thể khi có mối đe dọa đến an ninh Nhật Bản(6). Năm 2015, Nhật Bản hoàn tất việc chuyển giao cho hải quân Việt Nam 06 tàu đã qua sử dụng, gồm 02 tàu kiểm ngư, 04 tàu đánh cá thương mại, nằm trong gói viện trợ không hoàn lại trị giá 500 triệu Yên. Chuyến thăm của Thủ tướng Abe Shinzo đến Việt Nam đầu năm 2017 tiếp tục cung cấp cho Việt Nam 06 tàu tuần tra mới. Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên môn của Việt Nam được triển khai thông qua các khóa tập huấn, trao đổi chuyên ngành (an toàn bay, y học hàng không, y học tàu ngầm, công nghệ thông tin, an ninh mạng, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc...). Đặc biệt, Nhật Bản là một trong số ít cường quốc khá cởi mở trong việc chuyển giao kỹ thuật mới, các công nghệ đóng tàu quân sự, giúp Việt Nam đào tạo các chuyên gia kỹ thuật lĩnh vực công nghiệp quốc phòng.

    Những nội dung của Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng cần vận dụng để thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nhật Bản

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, những phương châm chỉ đạo cụ thể được quán triệt trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng sẽ được Việt Nam vận dụng sáng tạo nhằm đưa quan hệ hợp tác chiến lược Việt - Nhật đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.

    Thứ nhất, Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng quán triệt phương châm: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương”(7), đối ngoại song phương được đặt song hành với các hoạt động đối ngoại đa phương tiêu biểu. Nhiệm vụ “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác”(8) được khẳng định trong Văn kiện, quan hệ “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” giữa Việt Nam và Nhật Bản được đánh giá là một trong những mối quan hệ chiến lược đạt được nhiều hiệu quả thực chất nhất. Với nhiều nét tương đồng về phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, nâng cấp quan hệ “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” (năm 2009) thành quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” (năm 2014), hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng, hiệu quả trên mọi lĩnh vực. Nhật Bản là nước đầu tiên trong Nhóm các quốc gia công nghiệp phát triển (G7) đón Tổng Bí thư Việt Nam đến thăm (năm 1995), là nước G7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam (năm 2009), là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011), là nước G7 đầu tiên nguyên thủ gọi điện thoại cho lãnh đạo cấp cao của Việt Nam ngay khi lên nắm quyền (năm 2012), là nước G7 mà nguyên thủ lựa chọn Việt Nam là điểm đến cho chuyến công du nước ngoài đầu tiên (năm 2012, 2020) và là nước G7 đầu tiên mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (tháng 5/2016). Nếu nhìn vào mối quan hệ và các kênh lợi ích giữa hai nước, đây là mối quan hệ khá toàn diện, đặc biệt lĩnh vực kinh tế mang tính tương hỗ, bổ sung những lợi thế so sánh cho nhau. Về chính trị, đó là sự chia sẻ đồng quan điểm, mục tiêu mà không gây ảnh hưởng hoặc phương hại đến các quốc gia khác trong khu vực. Các lĩnh vực khác, như văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng.., đều đạt được những thành tựu khả quan.

    Thứ hai, nhiệm vụ, định hướng về hội nhập quốc tế trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế... thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc”(9), với những quan điểm chỉ đạo hội nhập trong từng lĩnh vực:

    - Thực hiện đẩy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết(10)

    Hiện nay, Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, cung cấp vốn vay bằng đồng Yên với tổng giá trị 2.578 tỷ Yên đến tháng 12/2019. Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt - Nhật (VJEPA) ký ngày 25/12/2008 và Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản - ASEAN đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho hai nước phát triển quan hệ thương mại. Để thực hiện VJEPA giai đoạn 2015 - 2019, Bộ Tài chính Việt Nam đã ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với hơn 3.200 dòng sản phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản. Đến năm 2026, hai nước cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại tự do song phương hoàn chỉnh với 94,53% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 87,6% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Ngoài ra, chương trình hành động “Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam” (gọi tắt là “Sáng kiến chung Việt - Nhật”) đã được hai bên thực hiện và tổng kết giai đoạn VII, khởi động giai đoạn VIII từ tháng 12/2020. Trong 17 năm thực hiện với 07 giai đoạn, sáng kiến đã chứng minh là kênh đối thoại quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản với các cơ quan Chính phủ Việt Nam, tạo thế và lực giúp Việt Nam xây dựng và phát triển đất nước, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

    - Chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh(11)

    Quan điểm này trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh - quốc phòng với Nhật Bản, đặc biệt từ sau khi hai bên ký kết Bản Ghi nhớ hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Nhật Bản (tháng 10/2011). Ngày 01/7/2014, việc thông qua dự thảo nghị quyết về quyền “tự vệ tập thể” (collective self defence) đã tạo điều kiện để Nhật Bản chủ động bảo vệ đồng minh khỏi các mối đe dọa từ bên ngoài lãnh thổ. Việt Nam có thể xem đây là gợi mở để tiếp cận quả quyết và khéo léo hơn với Trung Quốc xung quanh vấn đề biển Đông. Nhật Bản là cường quốc duy nhất có đủ khả năng hỗ trợ cho Việt Nam trang bị kỹ thuật nhanh, kịp thời và hiệu quả cho mục tiêu bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải. Trên cơ sở tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo giữa Bộ Quốc phòng hai nước ký tháng 4/2018, các đoàn tàu, máy bay của lực lượng phòng vệ Nhật Bản thường xuyên đến thăm, giao lưu với các đơn vị không quân, hải quân Việt Nam. Cơ chế tham vấn sĩ quan tham mưu của ba quân chủng (gồm lục quân, hải quân, không quân) cũng được duy trì. Nhật Bản thực sự là đối tác quan trọng của Việt Nam giúp hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội lần thứ XIII về nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh: “Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh”(12) và “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(13).

    - Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực xã hội, môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch và các lĩnh vực khác(14). Du lịch, giáo dục và khoa học - công nghệ là những điểm nhấn hiệu quả, cần tích cực phát huy trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản thời gian tới.

    Du lịch được kỳ vọng là một trong 04 lĩnh vực mũi nhọn mới cho sự hợp tác doanh nghiệp giữa Việt Nam và Nhật Bản. Trong nhóm 5 quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều khách du lịch đến Việt Nam, về cơ bản vẫn giữ nguyên thứ hạng: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Đài Loan. Với Tuyên bố chung về hợp tác du lịch Việt Nam - Nhật Bản (ký tháng 4/2005), Nhật Bản hiện là đối tác du lịch lớn thứ 3 của Việt Nam. Năm 2019, Việt Nam đón 952 nghìn lượt khách du lịch Nhật Bản, tăng 15,2% so với năm 2018(15); ở chiều ngược lại, Nhật Bản đón 495 nghìn lượt khách du lịch Việt Nam, tăng 27,3% so với năm 2018. Nhật Bản đã trở thành một trong những điểm đến yêu thích nhất của khách du lịch Việt Nam(16). Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản đã được phát triển dưới nhiều hình thức: hợp tác giữa hai Chính phủ, trường học, tổ chức và các cá nhân. Hằng năm, Chính phủ Nhật Bản dành hàng nghìn suất học bổng du học ở Nhật Bản cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh của Việt Nam thông qua Quỹ Japan (JF), Quỹ khuyến học Nhật Bản (JSPS), Quỹ Toyota, Dự án học bổng JDS, học bổng MEXT và một số học bổng do các doanh nghiệp Nhật Bản cung cấp. Dự án Học bổng phát triển nguồn nhân lực (gọi tắt là học bổng JDS), do Nhật Bản viện trợ không hoàn lại từ năm 2009 đã tiếp tục cấp 745 triệu Yên cho Việt Nam trong giai đoạn 2020 - 2027(17). Ngoài ra, hằng năm, học bổng Monbusho Nhật Bản cũng giành 100 suất (30 suất đại học, 20 suất cho bậc cao đẳng và 50 suất cho đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ) giúp phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam. Hiện nay, có khoảng hơn 14.000 lưu học sinh Việt Nam đang học tại Nhật Bản từ trình độ đại học trở lên(18). Họ được kỳ vọng sẽ trở thành cầu nối cho sự phát triển quan hệ hợp tác hai nước, đồng thời đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực từ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.

    Hiện thực hóa chủ trương “Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Đa dạng hóa hợp tác quốc tế, ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược”19) theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng, hợp tác Việt - Nhật về khoa học - công nghệ những năm qua tập trung cho nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ bảo vệ môi trường, công nghệ môi trường và xử lý nước thải, ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên nước… Trên cơ sở Hiệp định hợp tác Khoa học và Kỹ thuật (ký kết năm 2006), hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, như hợp tác giữa Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam và Viện Nghiên cứu Hóa - Lý, giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Cơ quan Hàng không Vũ trụ Nhật Bản (JAXA), giữa Viện Địa lý với Trung tâm Khoa học - công nghệ biển của Nhật Bản… Chiều ngày 23/4/2021, hai dự án “Tiếp nhận tàu nghiên cứu khoa học biển” và “Hỗ trợ thiết bị điều tra, khảo sát và phân tích rác thải nhựa đại dương” do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoàn lại đã giúp Việt Nam giải quyết vấn đề rác thải đại dương và góp phần hiện thực hóa Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn tới năm 2045. Những ủng hộ quý báu của Nhật Bản đều phù hợp với định hướng “Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên”(20) được nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

    Thứ ba, về công tác đối ngoại nhân dân, nếu Văn kiện Đại hội lần thứ XII chuyển thuật ngữ “ngoại giao nhân dân” thành “đối ngoại nhân dân”, thì Văn kiện Đại hội lần thứ XIII nhấn mạnh cụ thể hơn về “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(21), đặc biệt “... đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước”(22). Giao lưu giữa nhân dân Việt Nam và Nhật Bản đã được hình thành từ hơn 400 năm trước, khi những thuyền buôn của Nhật Bản cập cảng Phố Hiến ở miền Bắc và cảng Hội An ở miền Trung, khởi đầu vững chắc cho mối quan hệ giữa nhân dân hai nước sau này. Năm 1955 ở Nhật Bản đã thành lập Hội hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam. 10 năm sau (năm 1965), Hội hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản được thành lập. Bước sang thế kỷ XX, đặc biệt từ năm 2000 trở đi, hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật song phương đã có những bước tiến đáng kể. Tình cảm bền chặt giữa hai bên thể hiện qua sự cảm thông, ủng hộ của nhân dân Việt Nam đối với người dân Nhật Bản trước những giờ phút khó khăn sau thảm họa kép động đất, sóng thần kinh hoàng tháng 3/2011. Tháng 9/2013, “Năm hữu nghị Nhật - Việt”, nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đài truyền hình chính thức của hai nước đã đồng loạt trình chiếu bộ phim “Người cộng sự”. “Người cộng sự” là món quà kỷ niệm về tình bạn giữa nhà yêu nước Phan Bội Châu của Việt Nam với những người bạn Nhật

    Bản từ thế kỷ trước. Tình bạn tốt đẹp đó vẫn tiếp tục được vun đắp bởi các thế hệ tương lai, xây dựng mối quan hệ “từ trái tim đến trái tim” của hai dân tộc. Báo cáo của Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và lưu trú Nhật Bản (ngày 25/10/2020) xác nhận số người Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản là 371.755 người, trở thành cộng đồng người nước ngoài đông thứ 3 tại Nhật Bản(23), sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Như vậy, ngoại giao nhân dân đã và đang góp phần quan trọng vào mục tiêu củng cố quan hệ hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản, đúng với tinh thần của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, xứng tầm với quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”.

    Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mới

    Tiếp tục kế thừa “di sản” của người tiền nhiệm Abe Shinzo, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 10/2020, tân Thủ tướng Suga Yoshihide cam kết: “Tôi xin cam kết nắm chặt tay với ngài Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, tiếp tục phát triển mối quan hệ hai nước, đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng ở khu vực”(24). Với tiềm năng phát triển “không giới hạn”, những giải pháp cụ thể, hiệu quả sẽ tạo tiền đề vững chắc cho Việt Nam - Nhật Bản nâng cấp quan hệ hợp tác lên tầm cao mới:

    Thứ nhất, duy trì thường xuyên các cuộc tiếp xúc cấp cao giữa hai Nhà nước, hai Chính phủ, hai Quốc hội nhằm tăng cường hiểu biết, chia sẻ đồng thuận, giải quyết những khúc mắc nảy sinh. Các kênh ngoại giao mới, như ngoại giao kênh II, ngoại giao giới học giả… cần được chú trọng để làm đa dạng hóa nguồn hợp tác, thúc đẩy hiệu quả các kênh ngoại giao “truyền thống” như Bộ Ngoại giao, Đại Sứ quán… Đặc biệt, Việt Nam phải tích cực tranh thủ sự ủng hộ của Hoàng gia Nhật Bản - biểu tượng quyền lực đã tồn tại hằng nghìn năm của xứ sở “mặt trời mọc”, để quan hệ chiến lược Việt - Nhật được bảo đảm và phát triển chủ động hơn trong bất cứ bối cảnh thay đổi nào của tình hình khu vực và thế giới.

    Thứ hai, trên lĩnh vực kinh tế, để tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nhật Bản, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế theo hướng tinh gọn, phù hợp luật pháp và thông lệ quốc tế. Bên cạnh việc khuyến khích Nhật Bản đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất mà Việt Nam có thế mạnh, như nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm…, cần chủ động nâng cao năng lực sản xuất, bảo đảm tốt yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định về luật kiểm dịch động thực vật chuẩn quốc tế. Bởi vì, thị trường Nhật Bản là thị trường khá “khó tính”, một số tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhật Bản mang tính đặc trưng, không tuân theo tiêu chuẩn quốc tế thông dụng. Điều này chính là thách thức đối với các công ty sản xuất của Việt Nam, song cũng là cơ hội giúp chúng ta từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất theo thông lệ, quy chuẩn quốc tế.

    Thứ ba, trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, Nhật Bản đang từng bước xây dựng hình ảnh cường quốc trách nhiệm, có vai trò chính trị xứng đáng với tiềm lực kinh tế sẵn có. Về mặt khách quan, chủ trương ứng cử vào vị trí Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (đại diện cho khu vực châu Á) của Nhật Bản là nguyện vọng chính đáng, hoàn toàn tương xứng với những đóng góp to lớn của quốc gia này trong Liên hợp quốc và phù hợp với xu thế phát triển của tình hình thế giới hiện nay. Việt Nam cần thể hiện sự ủng hộ tích cực về lập trường, quan điểm trên các diễn đàn quốc tế và hành động trên thực tế đối với nỗ lực của Nhật Bản.

    Thứ tư, dựa vào những lợi thế của từng nước, Việt Nam và Nhật Bản từng bước xây dựng quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả. Nếu Việt Nam hướng tới Nhật Bản để “đi tắt, đón đầu” những thành tựu từ lĩnh vực khoa học - công nghệ tiên tiến, đặc biệt là khoa học ứng dụng giá trị cao, thì ngược lại, Nhật Bản tìm thấy ở Việt Nam lợi thế sẵn có là thị trường lao động tiềm năng, nguồn nhân lực trẻ, năng động và có kỹ thuật tốt, phù hợp với các ngành lao động phổ thông, như dịch vụ chăm sóc y tế cho người già… do quá trình già hóa dân số tại Nhật Bản. Thứ năm, tranh thủ những điều chỉnh trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh của Nhật Bản, Việt Nam sẽ có cơ hội để củng cố năng lực quốc

    phòng. Trong những điều chỉnh về ba nguyên tắc xuất khẩu vũ khí mới, việc bỏ quy định cấm xuất khẩu vũ khí cho các nước có chế độ chính trị khác biệt có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là một điều chỉnh có lợi cho Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chính trị - an ninh tại châu Á - Thái Bình Dương và biển Đông đang tiềm ẩn nhiều bất ổn. Là cường quốc biển, Nhật Bản nổi tiếng với kỹ thuật đóng tàu hiện đại (tàu ngầm, tàu khu trục, tàu đổ bộ xe tăng…) nhưng giá thành của các khí tài quân sự này tương đối cao so với khả năng chi trả của các quốc gia châu Á như Việt Nam. Tuy vậy, nhờ sự giúp đỡ từ nước bạn qua cơ chế chuyển giao công nghệ đóng tàu, cùng những chế tài quân sự phía Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam (tàu tuần tra cảnh sát biển, tàu kiểm ngư…) thông qua hợp tác quốc phòng hai nước, đã giúp chúng ta tự tin hơn trước những tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải với các cường quốc khác trong khu vực.

    Thứ sáu, đối ngoại nhân dân là điểm nhấn rất “sáng” trong quan hệ hai nước thời gian qua. Kết hợp cùng chính sách ngoại giao văn hóa hiệu quả, người dân hai nước đã từng bước hiểu về nhau trên cơ sở quan tâm và tôn trọng nhau. Hiện nay, người Việt Nam quan tâm, hiểu biết và yêu mến văn hóa, đời sống Nhật Bản. Người Việt Nam học tiếng Nhật Bản ngày càng nhiều trong từng cấp học, sự hứng thú đối với du lịch, ẩm thực Nhật Bản cũng gần ngang hàng với kinh tế hay khoa học - kỹ thuật. Ngược lại, văn hóa và giá trị Việt cũng đang được lan tỏa sâu rộng trong sự hiểu biết của nhiều người dân Nhật Bản. Để tiếp tục phát huy thành tựu này, hai nước cần xây dựng nhiều chương trình giao lưu văn hóa, giao lưu con người và đưa ngoại giao nhân dân trở thành trọng điểm chiến lược thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị Việt - Nhật trong tương lai.

    Tóm lại, cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo trong chuyến thăm Việt Nam tháng 01/2017 đã nhấn mạnh: “Dòng sông Hồng hùng vĩ chảy xuyên suốt qua Hà Nội, hướng ra biển Đông, tới biển Hoa Đông rồi nối vào dòng với vịnh Tokyo. Không gì có thể ngăn sự tự do qua lại trên dòng chảy này”. Hướng tới mốc kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, dựa trên nền tảng “bình đẳng, cùng nhìn nhận và tôn trọng nhau”, quan hệ hợp tác chiến lược Việt - Nhật không ngừng được củng cố và phát triển. Trở thành hình mẫu cho mối quan hệ hữu nghị, đôi bên cùng có lợi, tất cả chúng ta đều vui mừng nhận thấy một “kỷ nguyên mới” đang được xây dựng trong quan hệ hai nước. Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ với các nước lớn nói riêng, Việt Nam luôn kiên định “trong đối tác có đối tượng, trong hợp tác có đấu tranh”, từ đó thấy rõ tính chất hai mặt trong quan hệ với các đối tác. Sự điều chỉnh vừa đấu tranh, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(25), Việt Nam cần nhận thức rõ “tính chất hai mặt” trong quan hệ với Nhật Bản, bảo đảm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Qua đó, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích, nhận thức rõ những điểm mới về đối ngoại trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đồng thời áp dụng tinh thần mới này làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản chính là trách nhiệm của nhà nước và của mỗi người dân Việt Nam hiện nay chiến lược Đông Nam Á của Nhật Bản cũng như việc Nhật Bản gia tăng can dự vào tranh chấp biển Đông, mặc dù mang lại cho Việt Nam những lợi ích nhất định, nhưng cũng gián tiếp ảnh hưởng, trong đó rủi ro lớn nhất là việc nước ta có thể bị cuốn vào một cuộc “Chiến tranh lạnh” kiểu mới. Gần đây, Chính quyền Abe Shinzo, kế tiếp là Suga Yoshihide, đẩy mạnh “khối đồng minh mở rộng” của “bộ tứ” Ấn - Mỹ - Nhật - Australia với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hàn Quốc, thực hiện mục tiêu đối phó với Trung Quốc. Những động thái này được giới phân tích quốc tế đánh giá là nằm trong chiến lược “định vị hướng Nam” hay còn gọi là “Chiến lược an ninh dân chủ kim cương” của Chính quyền Abe, sau này được nâng cấp trong Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Tự do và rộng mở” dưới thời cựu Tổng thống Mỹ D. Trump. Từ cách tiếp cận trên, nếu cạnh tranh Mỹ - Trung trở nên khốc liệt hơn, với vai trò là đồng minh chiến lược của Mỹ, Nhật Bản có thể sẽ nỗ lực lôi kéo Việt Nam tham gia vào một “liên minh chống Trung Quốc”. Việt Nam với vị trí địa lý là nước láng giềng của Trung Quốc, đồng thời là một bên tham gia tranh chấp biển Đông, sẽ gặp vô vàn khó khăn trong việc duy trì thế cân bằng trong quan hệ tam giác Mỹ - Nhật - Trung. Như vậy, đúng theo tinh thần đối ngoại trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng: “Trên cơ sở vừa hợp tác,

    (Dẫn theo Tác giả: Ngô Phương Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài Đăng trên Tạp chí Khoa học chính trị số 09-2021)

    ------------------------------------------------------------

    (1), (2) và (5) Báo Thế giới và Việt Nam (Bộ Ngoại giao), Khai mạc Hội nghị “Gặp gỡ Nhật Bản 2020”-Meet Japan 2020, https://baoquocte.vn/khai-mac-hoi-nghi-gap-go-nhat-ban- 2020-meet-japan-2020-129983.html, ngày 28/4/2021

    (3) Bộ Ngoại giao Nhật Bản, ODA cho Việt Nam, http:// www.mofa.go.jp/mofaj/gaiko/oda/shiryo/kuni/12_ databook/pdfs/01-07.pdf

    (4) Ngô Phương Anh, Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thập niên đầu thế kỷ XXI: Những thành tựu nổi bật, Tạp chí Khoa học chính trị, số 02/2012, tr.73-80

    (6) Hà Văn Long - Huỳnh Tâm Sáng, Nhật Bản: Từ cải cách hiến pháp đến hợp tác an ninh hàng hải với Việt Nam và Philippines, http://nghiencuuquocte.net/2014/07/07/ nhat-ban-tu-cai-cach-hien-phap-den-hop-tac-an-ninh- hang-hai-voi-viet-nam-va-philippines/

    (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (19), (20), (21), (22) và (25) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.162, 163, 164, 164, 160, 156, 157, 164, 142, 155, 162, 164 và 162

    (15) và (16) Anh Minh (2020), Xúc tiến du lịch song phương Việt Nam - Nhật Bản, http://www.vtr.org.vn, truy cập ngày 30/4/2021

    (17) và (18) Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Hợp tác quốc tế, Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản: Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, http://icd.edu.vn, truy cập ngày 30/4/2021

    (23) Số lượng người Việt tại Nhật Bản 2021, https:// baoasahi.com, truy cập ngày 29/4/2021

    (24) Khang Anh (2020), Thủ tướng Suga Yoshihide: Việt Nam là đối tác quan trọng của Nhật Bản, https://thoidai. com.vn, truy cập ngày 03/5/2021

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:22
    • Hôm nay: 1781
    • Tháng hiện tại: 33609
    • Tổng lượt truy cập: 88620
    Địa chỉ: 99 Man Thiện, P. Hiệp Phú, Q.9, Tp HCM
    Email: hocvien2@hcma2.edu.vn
    Liên hệ: (84-8) 3896 6704
    Fax: (84-8) 3896 3245