KHẲNG ĐỊNH TÍNH CHÍNH ĐÁNG TRONG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    05/06/2022 09:47 AM


    1. Nội dung tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được nhân dân tin tưởng, thừa nhận là Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Với tư cách là chủ thể chính trị, chủ thể cầm quyền duy nhất ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng và củng cố được tính chính đáng trong cầm quyền của mình. Từ khi mới nắm quyền, Đảng luôn quan tâm đến tính chính đáng, tức khâu phát sinh quyền lực và trong suốt giai đoạn duy trì quyền lãnh đạo của mình. Cụ thể:

    Thứ nhất, giữ vững tính tiên phong là bản chất thể hiện tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền

    Cần khẳng định, hệ giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đuổi từ khi thành lập và phát triển đến nay là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Hệ giá trị này là tiền đề tư tưởng ảnh hưởng đến tính chính đáng về mặt lý luận của Đảng. Để có được tính chính đáng về mặt lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn duy trì, bổ sung và phát triển tính tiên phong trong hệ giá trị của mình.

    Để tạo ra tính chính đáng trong cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chú ý đến việc tiếp thu và truyền bá hệ tư tưởng mác-xít, coi đây là hệ tư tưởng mang tính tiên phong, tiến bộ (vì dân, bình đẳng, công bằng, tự do...). Khi đã có được hệ tư tưởng nền tảng, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội; định hướng và dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Đảng không ngừng truyền bá hệ tư tưởng của mình vào nhân dân. Do vậy, Đảng đã tập hợp được đông đảo nhân dân tin theo Đảng để giành chính quyền, xác lập vai trò cầm quyền của Đảng. Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để Đảng Cộng sản Việt Nam có được tính chính đáng trong cầm quyền của mình. Trong quá trình cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, phát triển hệ tư tưởng nền tảng để xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách phù hợp với từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, để người dân tiếp tục chấp nhận, tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền nhằm củng cố và duy trì tính chính đáng trong cầm quyền của mình.

    Thứ hai, tính hợp lý, hợp pháp trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Đây chính là cơ sở của tính chính đáng trong quá trình giành và giữ quyền lực của Đảng. Với đặc thù là đảng duy nhất cầm quyền, nên tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng không chỉ là các quy định trong cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, mà vị trí, vai trò, cầm quyền còn được xây dựng trên cơ sở pháp lý khẳng định trong các bản hiến pháp của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”(1). Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”(2). Các bản hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là những căn cứ chính trị - pháp lý rất quan trọng, là điều kiện cần để bảo đảm cho tính hợp pháp cho vị trí cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

    Ngoài ra, tính hợp pháp trong cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam còn là cách thức tạo dựng các cơ quan nhà nước, với tư cách là công cụ quyền lực của Đảng, công cụ bảo đảm quyền lực chính trị của Đảng được khách quan hóa trong quyền lực công - tức quyền lực nhà nước thông qua những thủ tục, thể lệ, quy trình, cốt lõi vẫn là nhà nước hóa các cơ cấu chính trị. Trong suốt chiều dài cầm quyền của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng ngày một lớn mạnh, nhằm giới thiệu cho nhân dân những đảng viên ưu tú nhất của Đảng, để nhân dân bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Hơn 92 năm ra đời, 77 năm cầm quyền, thông qua các cuộc bầu cử dân chủ (ngay từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến nay), các đảng viên được Đảng giới thiệu ra ứng cử đều được nhân dân tin tưởng, lựa chọn và luôn chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan nhà nước không ngừng hoàn thiện thể chế bầu cử, ứng cử nhằm mở rộng dân chủ để các cuộc bầu cử ngày càng chặt chẽ, dân chủ, tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân vào sự lựa chọn của mình. Đảng viên của Đảng được nhân dân lựa chọn sẽ là những nhân tố cốt lõi để duy trì, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự cầm quyền của Đảng và bảo đảm cho ý chí của Đảng được thể chế hóa một cách nhanh chóng, đầy đủ trong hệ thống chính sách để đến được với nhân dân.

    Thứ ba, tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Trong quá trình cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ dừng lại trong việc tiếp thu, củng cố, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, mà còn không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, thể chế hóa các lý tưởng chính trị của Đảng thành các chuẩn mực pháp quyền (hệ thống hiến pháp và pháp luật) để thực thi trên quy mô toàn xã hội thông qua các cơ quan nhà nước. Muốn bảo đảm được tính chính đáng trong cầm quyền, các mệnh lệnh được đưa ra từ các cơ quan nhà nước với tư cách là công cụ của đảng cầm quyền phải được nhân dân tuân thủ một cách tự nguyện, đi vào cuộc sống.

    Nhà nước với tư cách là công cụ cầm quyền của Đảng chỉ được xã hội thừa nhận là chính đáng khi tổ chức quyền lực này thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua hệ thống chính sách. Toàn bộ hoạt động của đảng cầm quyền đều xoay quanh hoạt động của Nhà nước, xoay quanh sản phẩm đầu ra của Nhà nước là các chính sách công. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến giải quyết các quan hệ lợi ích khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quyền và trách nhiệm của các cơ quan hoạch định chính sách, năng lực và tầm nhìn của người đứng đầu (cán bộ của Đảng) các cơ quan hoạch định chính sách; tính công khai, minh bạch trong việc cung cấp thông tin đến công chúng; cơ chế và năng lực giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách…

    Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay, Đảng luôn chú trọng đến các khâu: Tính đúng đắn, tính khả thi của mục tiêu chính trị - tức là trình độ, năng lực, quyết sách của đảng cầm quyền; tính đầy đủ, đồng bộ, khoa học và tương đối ổn định của hệ thống hiến pháp, pháp luật, nghị định; trình độ, năng lực xây dựng và hoàn thiện thể chế của bộ máy nhà nước, mà trước hết là Quốc hội; quyền năng và năng lực thực tế của bộ máy hành pháp; tính kịp thời, đúng đắn trong việc phát hiện và tính nghiêm minh trong việc xử lý hành vi sai phạm. Đây cũng là năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ làm việc trong cơ quan tư pháp và tính độc lập tương đối của cơ quan tư pháp.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đánh đuổi hai đế quốc xâm lược giành độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, trong hơn 35 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước, nhân dân đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Diện mạo đất nước, đời sống của nhân dân thực sự thay đổi; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Công tác xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(3).

    Thứ tư, Đảng đã luôn duy trì mức độ liêm chính, trong sạch của đảng cầm quyền

    Trong thời kỳ kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không có mục tiêu nào lớn hơn, thiêng liêng hơn là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Vì thế, chủ nghĩa cá nhân gần như không có cơ hội để nảy nở và phát triển. Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang giai đoạn xây dựng và phát triển, nhất là từ khi phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người có cơ hội trỗi dậy. Thực tế cho thấy, cái khó chiến thắng nhất trong mỗi con người là chủ nghĩa cá nhân. Bởi, “chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy”(4).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…”(5). Người còn cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn, tuyên truyền. Vì vậy, uy tín của Đảng trước nhân dân sẽ phụ thuộc rất lớn vào uy tín của đội ngũ cán bộ của Đảng. Cho nên, ngay từ những năm đầu giành được chính quyền cho đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII vừa qua, Đảng luôn chú trọng đến giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và không ngừng đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, nhiều vấn đề phức tạp được đặt ra và thực hiện từ những năm trước, nhưng hiệu quả còn thấp, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII của Đảng đã có chuyển biến tích cực.

    Theo đó, “công tác kiểm tra, giám sát và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt những kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn”(6). Điều này chứng minh, khi chúng ta có được một đảng cầm quyền liêm chính, trong sạch, tất cả vì lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân thì khi đó niềm tin của nhân dân sẽ được củng cố và nâng cao, tính chính đáng của đảng cầm quyền được khẳng định, không có thế lực nào có thể chống phá.

    2. Giải pháp nâng cao tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng

    Một là, tiếp tục nghiên cứu xây dựng tính tiên phong trong hệ giá trị của Đảng

    Hiện nay, nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ và Đảng cần không ngừng tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện, phát triển, xử lý tốt các mối quan hệ. Cụ thể: Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; Giữa nhà nước, thị trường và xã hội; Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; Giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; Giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội(7).

    Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, các thành tựu trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã làm cho hệ giá trị và các chuẩn mực có sự chuyển biến rất lớn, đặt ra những thách thức cho hệ tư tưởng vốn đã tồn tại và mặc định cùng với sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian dài. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho công tác nghiên cứu lý luận và tư duy của những người nắm giữ vai trò quyền lực quan trọng của Đảng. Nếu không nắm bắt được sự chuyển đổi nhanh chóng về hệ giá trị và các chuẩn mực trong xã hội (cơ sở của tính chính đáng), thì sẽ dẫn đến những sai lầm, giáo điều, máy móc về mặt tư tưởng mang tính định hướng, tiên phong; đồng thời, không có sự đổi mới kịp thời trong xây dựng các quyết sách chính trị của Đảng nhằm kích thích sự tự do sáng tạo, tự do làm giàu... của các cá nhân trong xã hội. Đặc biệt, một số công cụ (tổ chức hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, hệ thống hiến pháp và pháp luật) và phương thức lãnh đạo của Đảng sẽ không có những chuyển biến kịp thời nhằm đáp ứng được đòi hỏi của những chuyển biến nhanh chóng trong thời đại mới, thậm chí sẽ là một rào cản rất lớn cho sự phát triển và cũng là nguyên nhân dẫn tới các suy thoái về tư tưởng chính trị, quan liêu, tham nhũng,... đã được Đảng chỉ ra qua nhiều nhiệm kỳ, nhưng vẫn chưa được kiểm soát và ngăn chặn có hiệu quả.

    Hai là, nâng cao tính dân chủ và khoa học trong quy trình hình thành các quyết sách của Đảng

    Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay, nhờ bước đột phá từ đổi mới trong tư duy, Đảng đã đề ra đường lối, chính sách quan trọng trong cả kinh tế và chính trị, vì lợi ích chung, nhờ đó thúc đẩy được sự phát triển, tạo được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay, một số chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng chưa được triển khai thực hiện tốt, hiệu quả chưa cao, làm suy giảm niềm tin trong một bộ phận nhân dân. Điều này đến từ các nguyên nhân: 1) Tính phản biện chưa cao; 2) Thể chế hóa quyết sách có quyền lực quá tập trung, nhất là ở cấp địa phương; nảy sinh sự chuyên quyền, độc đoán cá nhân trong quá trình ra quyết sách; 3) Thiếu tính khoa học trong hoạch định các quyết sách.

    Những quyết sách quan trọng cần được soạn thảo từ cơ quan tham mưu, tập hợp đội ngũ có trí tuệ cao của Đảng và cần được thảo luận một cách kỹ càng từ đông đảo đảng viên của Đảng và của các nhà khoa học trong toàn xã hội. Đồng thời, các ý kiến khác biệt phải được tôn trọng, bảo vệ và được phản ánh. Khuyến khích đảng viên nói thật, nói thẳng, tăng cường ý thức chủ thể và tinh thần trách nhiệm, ý thức về sứ mệnh của đảng viên trong xây dựng Đảng. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong việc xây dựng các quyết sách, xây dựng chiến lược phát triển đất nước. Đảng cần đẩy mạnh cơ chế kiểm tra, giám sát và nghiêm trị những hành vi áp đặt, trù dập của những đảng viên có chức, có quyền đối với những đảng viên nói thẳng, nói thật. Để nâng cao tính khả thi, giảm thiểu sai lầm của quyết sách, cần xây dựng chế độ truy cứu trách nhiệm đối với quyết sách sai lầm. Tập thể quyết sách có sai lầm nghiêm trọng, thì vừa phải truy cứu trách nhiệm của người có trách nhiệm trực tiếp, cũng phải truy cứu trách nhiệm của người lãnh đạo.

    Ba là, không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới

    Ở Việt Nam, quyền lực chính trị là thống nhất. Vấn đề là phương thức thực thi quyền lực chính trị của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua nhà nước. Qua 35 năm đổi mới, thực tiễn cầm quyền của Đảng đã được thể hiện cụ thể theo hướng này. Vấn đề đặt ra hiện nay, một mặt, phải bảo đảm sự thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng và tổ chức thực thi quyền lực quản lý của Nhà nước; mặt khác, phải phân biệt những quyền hạn của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, tránh tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đùn đẩy trách nhiệm mỗi khi có hậu quả xảy ra. Đây không chỉ xuất phát từ sự khác nhau trong phương thức thực thi quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn trực tiếp liên quan đến tính minh bạch, rõ ràng, bền vững của các cơ sở hợp pháp cho vị trí, vai trò của đảng cầm quyền.

    Bốn là, tăng cường tính gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là tăng cường kiểm soát quyền lực

    Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và XII khẳng định: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, ngành làm giảm lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

    Gần đây, trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng lại tiếp tục khẳng định: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”(8). Những vấn đề này nếu không được khắc phục, sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, làm xói mòn tính chính đáng của đảng cầm quyền.

    Việc xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo tinh thông về chuyên môn, trong sáng về đạo đức là một yêu cầu quan trọng nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, tham nhũng, hư hỏng, thậm chí độc đoán của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số lãnh đạo cấp cao xảy ra ở một số nơi. Nếu không khắc phục được sẽ làm mất niềm tin của nhân dân, làm xói mòn tính chính đáng cầm quyền của Đảng. Nguyên nhân chính là quyền lực của Đảng chưa được giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ và hiệu quả.

    Do vậy, về lâu dài, chúng ta phải tạo ra được một cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực của Đảng mang tính khoa học và có hiệu quả. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: Phải nhốt quyền lực vào lồng thể chế. Có như vậy, vấn đề lạm dụng, tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền mới bị kìm chế nhằm củng cố tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng một cách lâu dài.

    Muốn vậy, cần phải: 1) Bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị; 2) Tăng cường các thiết chế giám sát, kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ đối với những cá nhân có quyền lực trong Đảng và Nhà nước; 3) Thực hiện triệt để và nghiêm túc các quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng kết hợp với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; 4) Có kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, thử thách cán bộ được quy hoạch, nhất là cán bộ cấp chiến lược để tạo ra các thế hệ lãnh đạo có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và tín nhiệm trước nhân dân; 5) Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí phấn đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

    Tóm lại, kể từ khi Đảng được thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đất nước ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng đã được lịch sử chứng minh và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Hiện nay, khi Đảng đang lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng rõ hơn, các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội dần trở thành hiện thực. Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính đáng trong cầm quyền của Đảng lại càng được khẳng định và nâng cao. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với một đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không thế lực nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”(9).

    (Dẫn theo Tác giả: TS. Nguyễn Văn Quang, TS. Nguyễn Hải Thanh, Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài Đăng trên Tạp chí Khoa học chính trị số 04-2022)

    -------------------------------------------------

    (1) và (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88 và 88-89

    (3), (6) và (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.104, 21-22 và 108

    (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.606

    (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Sđd, tr.16

    (7) và (9) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.55 và 11

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:1
    • Hôm nay: 913
    • Tháng hiện tại: 60163
    • Tổng lượt truy cập: 1
    Địa chỉ: 99 Man Thiện, P. Hiệp Phú, Q.9, Tp HCM
    Email: hocvien2@hcma2.edu.vn
    Liên hệ: (84-8) 3896 6704
    Fax: (84-8) 3896 3245