KẾ HOẠCH TÁI THIẾT ĐẤT NƯỚC SAU CHIẾN TRANH TRONG DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

    20/02/2019 04:15 PM


    Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thời gian dài. Tác phẩm là sự lắng đọng những suy tư lớn về các vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Với tư tưởng giải phóng để phát triển, Người luôn coi giải phóng dân tộc là tiền đề, điều kiện để dân tộc vươn tới tầm cao mới. Vì thế, kế hoạch tái thiết đất nước sau chiến tranh là nội dung rất quan trọng trong Di chúc của Người. Với nội dung này, khả năng tiên liệu tương lai và sức sống trường tồn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh một lần nữa được khẳng định.

    1. Dự cảm của Hồ Chí Minh về công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh

    Với tầm nhìn của nhà quân sự thiên tài, Hồ Chí Minh hiểu rằng, giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất là lúc chiến thắng đã cận kề. Vì thế, tháng 5/1968, trong lúc quân và dân ta đang tiến hành Chiến dịch Mậu Thân lịch sử, Người đặt bút viết kế hoạch tái thiết đất nước sau chiến tranh. Người căn dặn: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”(1). Từ xưa đến nay, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục đất nước sau chiến tranh là việc làm mang tính quy luật của bất cứ quốc gia nào đã trải qua chiến tranh. Với tầm “nhìn xa trông rộng”, Hồ Chí Minh không chỉ thấy tính tất yếu của nhiệm vụ này, mà còn lường trước những khó khăn của cách mạng Việt Nam khi ở chặng đường đó, dù về nguyên tắc, thời hậu chiến ở nước nào cũng đều gian khó. Những khó khăn, phức tạp ở mức độ nghiêm trọng của Việt Nam trong thời hậu chiến hoàn toàn có căn nguyên của nó. Thứ nhất, do chiến tranh ở Việt Nam kéo dài và khốc liệt nên hậu quả của nó rất nặng nề. Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người cùng với hàng triệu người khác bị thương và phơi nhiễm chất độc da cam. Các tỉnh, thành ở miền Bắc bị phá hủy với những mức độ khác nhau; ở miền Nam, nhiều vấn đề phức tạp sẽ nảy sinh khi diễn ra sự thay đổi chế độ xã hội… Sự hoang tàn của mặt đất và sự ngổn ngang của lòng người sẽ dẫn đến “một núi” công việc phải giải quyết. Thứ hai, do định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã được xác định ngay trong Chánh cương vắn tắt thành lập Đảng năm 1930. Vì thế, khi giang sơn đã thu về một mối, điều tất yếu là cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, “thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều” (2). Kẻ thù trong chiến tranh luôn hiện hữu. Kẻ thù của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là “chủ nghĩa cá nhân” thì vô hình, vô ảnh, nên thắng được nó không dễ dàng. Hội tụ những nguyên nhân khách quan và chủ quan đó, Hồ Chí Minh coi công cuộc tái thiết đất nước “là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh bị động, thiếu sót và sai lầm”(3). Để tránh những sai lầm cũng như hiểm họa mới sẽ nảy sinh, lực lượng lãnh đạo phải trù tính được bước đi rõ ràng, chu đáo và kỹ lưỡng. Nhìn lại suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta nhận thấy, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm chuẩn bị nhân lực cho ngày chiến thắng bằng việc đưa con em cán bộ miền Nam ra tập kết ngoài Bắc và đưa sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập. Tuy nhiên, chương trình tái thiết đất nước đòi hỏi chiến lược mang tính tổng thể. Vì vậy, trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhắc nhở Đảng và Nhà nước phải chủ động chuẩn bị kế hoạch này.

    Là người kết hợp một cách hài hòa các trạng thái đối lập nên Hồ Chí Minh luôn lạc quan, nhưng không bao giờ chủ quan, tự mãn; luôn thận trọng, kỹ lưỡng, nhưng không bao giờ bi lụy, tự ti. Lời căn dặn sau của Người đã thể hiện đặc điểm đó: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi” (4). Cách nhìn sự việc ở hai chiều đối lập đã thể hiện tư duy biện chứng của Người. Nếu trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa giản dị: “cách mạng là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(5), thì trong Di chúc, Người gián tiếp đưa ra định nghĩa về đổi mới: Đổi mới là công cuộc chiến đấu “chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những gì mới mẻ, tốt tươi”. Theo Hồ Chí Minh: “Thói quen rất khó đổi. Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu. Cái xấu mà quen, người ta cho là thường” (6), cho nên, khởi nguồn của cái mới bao giờ cũng hết sức gian nan, cô độc, khó khăn, nhưng rồi cái mới tốt đẹp sẽ dần thắng cái cũ đã hư hỏng để cuộc sống không ngừng phát triển. Như vậy, kế hoạch tái thiết đất nước của Hồ Chí Minh đã thấm đượm tinh thần đổi mới, mặc dù trong Di chúc, Người chưa dùng khái niệm này.

    Một điều sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng luôn bao gồm phương pháp. Kế thừa tư tưởng thân dân của ông cha và quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ cho Đảng “bí kíp” hành động: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(7). Nhấn mạnh 3 lần từ “toàn dân”, Hồ Chí Minh đã khẳng định đó chính là liệu pháp có sức mạnh vạn năng mà Đảng cần sử dụng khi lãnh đạo sự nghiệp tái thiết đất nước sau chiến tranh.

    Như vậy, khi dự cảm về thời hậu chiến, Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, đã lường trước những khó khăn của đất nước trong chặng đường đó và gợi mở cho Đảng phương pháp hành động để đi đến thắng lợi.

    2. Kế hoạch tái thiết đất nước trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Quan điểm thống nhất của Hồ Chí Minh là: nói đến trách nhiệm thì “trước hết là nói về Đảng” và nói đến quyền lợi thì “đầu tiên là công việc đối với con người”. Kế hoạch hậu chiến của Hồ Chí Minh đi theo mạch tư duy đó. Vì vậy, trong Di chúc viết năm 1968, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng” (8).

    Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ buổi đầu gây dựng phong trào, Người đã viết: “Cách mạng trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững, cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” (9). Giữ vững quan điểm đó, trong Di chúc, Người xác định rõ mục tiêu của công tác chỉnh đốn Đảng là “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(10). Từ trước đến nay, việc “chỉnh đốn Đảng” thường được hiểu một cách giản đơn rằng, Đảng phạm sai lầm nào thì cần sửa chữa, khắc phục sai lầm đó, nhưng cách luận giải của Hồ Chí Minh trong Di chúc giúp ta hiểu rằng, “chỉnh đốn Đảng” là nâng cao năng lực lãnh đạo và tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên và là công việc thường xuyên, chứ không phải là liệu pháp mang tính tình thế. Trong Di chúc, với việc đặt nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng lên hàng đầu thì dường như Người đã tiên lượng được sự phát tác của chủ nghĩa cá nhân, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, nên chăm lo cho con người là nội dung chính trong kế hoạch tái thiết đất nước.

    Do tính chất chiến tranh ở Việt Nam là chiến tranh nhân dân, nền độc lập, tự do của nước nhà đều có sự cống hiến, hy sinh của mỗi người dân, nên số lượng người có công với đất nước là rất nhiều. Từ thực tế vừa vinh quang, vừa đau đớn đó, Hồ Chí Minh xác định công việc đầu tiên trong kế hoạch “đối với con người” chính là việc đền ơn, đáp nghĩa cho những người có công với nước. Hơn thế, đối với mỗi đối tượng (những người có công bao gồm cả người còn sống và người đã khuất), Người đề ra “kế hoạch” phù hợp. Với những người đang sống - những người “đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”” (11). Kế thừa quan điểm sâu sắc của C. Mác: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử” (12), nên Hồ Chí Minh quan tâm trước tiên đến nhu cầu về “nơi ăn, chốn ở” và lâu dài là công ăn việc làm của họ. Đặc biệt, những người trong độ tuổi lao động phải có quyền được lao động và có trách nhiệm phải lao động, nên Người yêu cầu Đảng và Nhà nước phải hết sức quan tâm đến việc làm để những người có công với nước vừa có điều kiện ổn định cuộc sống lâu dài, vừa có thể tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc.

    Với những người đã hy sinh vì nền độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ” (13). Truyền thống của dân tộc Việt Nam không chỉ là thờ cúng tổ tiên, mà còn luôn tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã xả thân vì nước. Vì thế, lời căn dặn của Người không chỉ phù hợp với văn hóa tâm linh của dân tộc, mà còn nhằm mục đích giáo dục tinh thần yêu nước cho con người Việt Nam. Sinh thời, Hồ Chí Minh từng giáo dục nhân dân đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và nhiệm vụ “đền ơn đáp nghĩa” bằng những lời dặn thấu tình, đạt lý: “Có quân đội đánh giặc và giữ làng, giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết có thể làm ra, thời gian qua, thời gian lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu. Có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân gãy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là sự hy sinh tuyệt đối”(14). Khi mỗi người lính không trở về hoặc trở về trong hình hài không nguyên vẹn, gia đình họ phải chịu sự mất mát không gì bù đắp. Vì thế, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, “quyết không để họ bị đói rét” (15). Lo cho gia quyến của họ không chỉ là cách báo đáp thiết thực nhất với những con người đã hiến dâng xương máu cho Tổ quốc, mà còn là sự công bằng, nhân văn trong chính sách xã hội của Nhà nước ta.

    Thấu hiểu sự hữu hạn của đời người và sự lâu dài của sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến việc đào tạo thế hệ kế tục. Trong Di chúc, ngay sau phần nói về Đảng, Người viết: “Đoàn thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(16). Sự cần thiết của việc “trồng người” thì đã rõ, nhưng quan trọng hơn là phương hướng hành động. Trong Di chúc viết năm 1968, Người đã chỉ rõ đối tượng và cách thức đào tạo lực lượng nòng cốt của cách mạng: “Những chiến sỹ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy học thêm các ngành, các nghề để tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(17). Cách lựa chọn những hạt giống đỏ cho cách mạng của Hồ Chí Minh thực sự thông tuệ về lý, sâu sắc về tình. Xét về lý, đây là sự lựa chọn nhân sự chính xác; xét về tình, đây là cách đối xử công bằng, phù hợp với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc với những con người đã hiến dâng tuổi xuân cho đất nước. Qua những lời căn dặn đó, Hồ Chí Minh còn gián tiếp thể hiện quan điểm về công tác đào tạo cán bộ. Rõ ràng, mỗi chặng đường cách mạng đòi hỏi ở người cán bộ những năng lực khác nhau. Ngày chiến thắng cũng là lúc đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, với những công việc và yêu cầu hoàn toàn mới. Vì vậy, Đảng phải sớm có chiến lược đào tạo cán bộ bằng cách trang bị thêm cho họ những tri thức mới để họ đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ mới. Suy cho cùng, yêu thương con người chính là tạo cơ hội để con người được khẳng định mình, là nâng con người lên đúng tầm. Chiều sâu nhân văn của nhà chính trị, nhà giáo dục thiên tài Hồ Chí Minh chính là ở đó.

    Đối tượng thứ ba được Hồ Chí Minh nhắc đến trong chính sách đối với con người là những người phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và cũng là nạn nhân của tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” đang tồn tại trong xã hội. Người yêu cầu “Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” (18). Người còn lưu ý rằng, “bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên”. Chỉ bằng vài dòng ngắn ngủi, Hồ Chí Minh đã phác họa cả phương hướng và mục đích trong “con đường giải phóng” phụ nữ - công việc cốt yếu trong quá trình giải phóng con người.

    Đối tượng thứ tư được Hồ Chí Minh đề cập đến trong kế hoạch tái thiết đất nước là những người nông dân ngày đêm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình nhà nho có nguồn gốc nông dân. Từ lúc nhỏ cho đến tuổi học trò, Người sống giữa những người nông dân nghèo khổ nên rất thấu hiểu nỗi vất vả của nông dân. Trong thời gian hoạt động ở Liên Xô, tháng 10/1923, Người đã tham dự Đại hội Nông dân quốc tế lần thứ nhất và được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, nên sự thấu hiểu của Người về vấn đề nông dân vượt ra ngoài biên giới dân tộc. Ngày 07/6/1960, khi về huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây để động viên nhân dân chống hạn, Người nói những điều giản dị: “Thuở nhỏ, tôi sống với bà con hàng xóm làm nông nghiệp. Tôi hiểu nỗi cơ cực của bà con”. Người không chỉ thấu hiểu sự vất vả của người nông dân “chân lấm, tay bùn”, mà còn thấu hiểu sự hy sinh cao cả, thầm lặng của họ khi phải “thắt lưng buộc bụng” thực hiện yêu cầu của Đảng và Chính phủ về việc “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” để chi viện cho miền Nam ruột thịt. Vì thế, Người dặn rằng, khi cách mạng đã thắng lợi thì “Nhà nước miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để bà con hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(19). Việc hoãn thuế nông nghiệp không chỉ đơn thuần mang lại lợi ích vật chất cho nông dân, mà còn là sự ghi nhận công lao to lớn của Đảng và Nhà nước đối với họ và điều đó mang đến cho nông dân sự động viên to lớn. Tình cảm của Người dành cho nông dân sâu nặng đến mức trong Di chúc viết năm 1968, Người nói rõ mục đích của việc yêu cầu hỏa táng của Người là để “không tốn đất ruộng”(20), tức là đất canh tác của nông dân. Có thể thấy rằng, ngay cả những giây phút cuối cùng, Người vẫn đau đáu nhớ về những người nông dân nghèo khổ và hành động vì lợi ích của những con người ấy.

    Đặc biệt, trong Di chúc, Hồ Chí Minh còn nhắc đến những người bị coi là “đáy cùng” của xã hội, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… Người rất sâu sắc và khoan dung khi coi họ là “nạn nhân của chế độ xã hội cũ”. Người yêu cầu “Nhà nước phải vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(21). Dường như, chưa từng có bản Di chúc của nguyên thủ quốc gia nào mà tình yêu thương rộng mở đến cả những con người bị coi là thấp hèn đó. Với lời căn dặn này, thêm một lần nữa Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc phải kết hợp hài hòa giữa “đức trị” và “pháp trị”. Đây cũng là chỗ cao sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh khi đặt ra mục tiêu “cải tạo con người” và luôn tin tưởng vào khả năng “hoàn lương”, hướng thiện của những con người đã từng lầm lỡ.

    Như vậy, trong chính sách xã hội và chiến lược con người của Hồ Chí Minh có đủ mọi lớp người, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Trong tình yêu thương mênh mông của Hồ Chí Minh “có chỗ cho tất cả mọi người, không quên, không sót một ai và sắp xếp cho mỗi người vị trí chiến đấu cũng như lo lắng chu đáo cho mỗi người về việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa yêu thương dìu dắt”(22). Sự quan tâm sâu sắc đến con người đã làm nên tầm vóc của nhà tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì, “tầm cỡ của một nhà hiền triết… chung quy lại là ở mức độ quan tâm đến con người… Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó, vì thế mà Cụ lớn” (23).

    Sau hai nội dung lớn là “chỉnh đốn Đảng” và “công việc đối với con người”, Di chúc của Hồ Chí Minh còn đề cập đến các nội dung khác trong chương trình tái thiết đất nước. Đó là “kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”; là sự cần thiết phải “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”; “phát triển công tác vệ sinh, y tế”; cần “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động” và không lúc nào được lơi là “công tác quốc phòng”.

    Mặc dù ngay từ khi đặt bút, Hồ Chí Minh xác định là “viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết”(24), nhưng kế hoạch hậu chiến hết sức toàn diện, bao gồm mọi lĩnh vực (chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội - con người…) đã được Người phác thảo trên nét lớn. Vì thế, Di chúc của Người mang tầm vóc của cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh và thấm đượm tinh thần đổi mới hết sức sâu sắc.

    Sau gần nửa thế kỷ kể từ ngày Người ra đi, đã tròn 40 năm từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và gần 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vị thế quốc gia trên trường quốc tế và đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ra sức thực hiện những lời căn dặn của Hồ Chí Minh, như coi xây dựng Đảng là then chốt, phát triển kinh tế là trọng tâm, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng… Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan (nguyên nhân chủ quan là chủ yếu), một số điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Kết quả là, trong cuộc sống hôm nay có sự đan xen phức tạp giữa những nhân tố “mới mẻ, tốt tươi” và những điều đã “cũ kỹ, hư hỏng”. Thực trạng đó đã tạo “dư địa” lớn để thực hiện tiếp những lời căn dặn của Người. Vì thế, kế hoạch tái thiết và xây dựng đất nước sau chiến tranh mà Người để lại vẫn mang giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc

    (1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Nxb CTQG, HN. 2011, tr.616

    (2) Hồ Chí Minh, Sđd, t.12, 402

    (3), (4) và (7) Hồ Chí Minh, Sđd, t.15, tr.616, 617 và 617

    (5) Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr.284

    (6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.125

    (8), (10), (11) và (13) Hồ CHí Minh, Sđd, t.15, tr.617, 616, 616 và 616

    (12) C. Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, t.3, Nxb CTQG, HN. 1995, tr.40

    (14), (15), (16), (17) và (18) Hồ Chí Minh, Sđd, t.15, tr.334-335, 116, 612, 616-617 và 617

    19), (20) và (21) Hồ Chí Minh, Sđd, t.15, tr.617, 615 và 617

    (22) Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh: Tinh hoa và khi phách của dân tộc, Nxb CTQG, HN. 2012, tr.120

    (23) Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb KHXH, HN. 1995, tr.287

    (24) Hồ Chí Minh, Sđd, t.15, tr.616

    PGS, TS. TRẦN THỊ MINH TUYẾT - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:49
    • Hôm nay: 265
    • Tháng hiện tại: 15123
    • Tổng lượt truy cập: 22488129